Là một đất nước hiện đại nhưng đậm nét truyền thống lâu đời, Hàn Quốc không chỉ là điểm đến thu hút khách du lịch mà còn thu hút người lao động xuất khẩu và học sinh du học Hàn Quốc từ khắp nơi trên thế giới.

Có thể bạn quan tâm:

Địa lý

Hàn Quốc (hay còn gọi là Đại Hàn, Nam Hàn, Nam Triều Tiên) là quốc gia theo thể chế cộng hòa nằm ở phía Nam bán đảo Triều Tiên.

thu do seoul han quoc

Thủ đô Seoul Hàn Quốc

Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất Hàn Quốc là Seoul (Xơ-un), với dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người, nằm phía Tây Bắc. 6 thành phố lớn (trực thuộc trung ương) là Busan, Daegu, Incheon, Gwangju, Daejeon, Ulsan và 9 tỉnh (được gọi là “do”) là Gyeonggi-do, Ganwon-do, Chungcheongbuk-do, Chungcheongnam-do, Jeollabuk-do, Jeollanam-do, Geongsangbuk-do, Geongsangnam-do, Jeju (đặc khu tự trị).

Khí hậu

Khí hậu Hàn Quốc là khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rêt. Mùa hè nóng ẩm. Mùa đông kéo dài, khô, lạnh và tuyết rơi nhiều, đặc biệt là ở các khu vực miền núi, không phải dọc theo bờ biển phía Nam. Mùa xuân và mùa thu ngắn nhưng khí hậu rất dễ chịu, mát mẻ. Thời điểm chuyển giao giữa mùa hè và mùa thu thường có mưa lớn có diện rộng. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3. Vào đầu năm thường có mưa phùn. Tháng 4 thời tiết bắt đầu dịu, quang cảnh trở nên rất đẹp với cảnh sắc sống động, bầu trời xanh thẳm – Đây chính là  nét đặc trưng của mùa thu Hàn Quốc.

mua thu han quoc

Mùa thu Hàn Quốc

Ngôn ngữ – Chữ viết

Ngôn ngữ chính thức của Hàn Quốc là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Tiếng Anh, Trung Quốc và Nhật Bản là ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha ít phổ biến hơn.

Chữ viết chính của người Hàn Quốc – Hangeul  – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 kí tự, 24 kí tự đơn và 27 kí tự kép kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Với những người không biết chữ Triều Tiên thì sẽ thấy chúng phức tạp như chữ Hán, nhưng thực ra không phải vậy. Người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì vậy mà chữ Hangeul còn được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng có thể học xong).

Giống như các ngôn ngữ Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm khác nghĩa. Và để rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học hay trên danh thiếp người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja – bộ chữ Hán của người Triều Tiên.

Giáo dục

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc gồm Tiểu học (6 năm) – Trung học cơ sở (3 năm) và Trung học phổ thông (3 năm). Giáo dục bậc Tiểu học và Trung học là bắt buộc và được miễn phí. Học sinh chỉ phải trả phí hỗ trợ hoạt động của nhà trường và mức phí tùy theo trường. Theo Chương trình đánh giá học sinh quốc tế của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD), giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.

Giáo dục Hàn Quốc được đánh giá cao, nhất là về toán học và văn học. Tuy nhiên việc học tại đây thụ động và nặng về lý thuyết. Học sinh phải học rất nhiều (một ngày 16 tiếng từ 8 giờ sáng đến 10 giờ tối và học cả thứ 7) để cốt thi vào đại học. Hagwon (dạy thêm) bị lên án kịch liệt tại quốc gia này.

Các trường đại học ở Hàn Quốc và cao đẳng ở Hàn Quốc có 407 trường, trong đó có nhiều trường tư với mức học phí cao.

Văn hóa – Giải trí

Hàn Quốc có chung văn hóa truyền thống với CHDCND Triều Tiên nhưng văn hóa hiện đại thì lại có khác biệt rất lớn. Được mệnh danh là đất nước của ngành công nghiệp giải trí, lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh Hàn Quốc phát triển rất mạnh và có sức ảnh hưởng lớn.

Làn sóng K-pop không chỉ lan rộng các nước châu Á mà tại nhiều nước phương Tây cũng vô cùng được yêu thích. Shinhwa, S.E.S, TVXQ, Bigbang, SNSD, Super Junior, Wondergirls, BoA, Lee Hyori, Beak Ji Young, EXO, Twice, BTS,… là những cái tên không hề xa lạ với giới trẻ.

Noraebang – karaoke Hàn Quốc quốc rất được yêu thích, từ thanh niên trẻ tuổi cho đến những người lớn tuổi. Các quán karaoke (noraebang) có thể tìm thấy ở mọi ngóc ngách tại đất nước này.

Hàn Quốc là một trong số ít những nước mà điện ảnh Hollywood không có sức ảnh hưởng, bằng chứng rõ nhất là lượng xem phim trong nước nhiều hơn hẳn phim nước ngoài. Tại nhiều quốc gia, ví dụ như Việt Nam, sức ảnh hưởng của phim Hàn Quốc không hề nhỏ. Các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng:  Shiri  (1999 – gây được chú ý với Holywood, được bán cho Hoa Kỳ), Vùng anh ninh chung – Joint Security Area (2000), Bạn – Friend (2001), My sassy girl- Cô này ngổ ngáo (được yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn hay Harry Potter), Old boy (giành giải thưởng lớn tại LHP Cannes và được bán cho nhiều nước),… Tại Việt Nam, những bộ phim như Bản tình ca mùa đông, Trái tim mùa thu, Mối tình đầu đã lấy đi không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả. Gần đây nhất, những bộ phim như Cheese in the trap, Descendants Of The Sun – Hậu duệ mặt trời, Goblin – Yêu tinh  cũng tạo nên cơn sốt trong giới trẻ.

Ẩm thực

Ẩm thực Hàn Quốc rất phong phú, đa dạng. Không chỉ đẹp mắt, đồ ăn xứ Hàn còn đầy đủ dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe. Rất nhiều món ăn nổi tiếng nơi đây đã du nhập vào Việt Nam, trở nên không hề xa lạ.

Kimchi – món dưa muối truyền thống rất bổ dưỡng của người Triều Tiên, được ăn hầu hết trong các bữa ăn. Nguyên liệu làm kim chi cũng rất đơn giản, bao gồm các loại rau củ (cải thảo/ cải bắp, củ cải hoặc dưa chuột,…) và gia vị khác (tỏi, ớt, gừng, hành,…) Bảo tàng về kim chi đã ghi nhận có tất cả 250 loại kim chi từ xưa đến nay. (Ảnh 8)

Bulgogi, galbi, samgyeopsal – những món đặc sản từ thịt rất phổ biến. Bulgogi là thịt nướng tẩm ướp, thường dùng thịt bò, có thể thay bằng thịt gà, cá. Galbi là xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng và samgyeopsal là món từ thịt lợn ở phần bụng. (Ảnh 9 – bulgogi, Ảnh 10 – galbi, Ảnh 11- samgyeopsal )

Bibimbapkimbap là hai món làm từ cơm và giờ đã trở nên khá quen thuộc với nhiều bạn trẻ Việt. Bibimbap là cơm trộn (cơm trộn với thịt, rau, tương ớt đỏ) và kimbap là cơm cuộn (cơm trộn cuộn rau, thịt trong lớp rong biển). (Ảnh 12 – bibimbap, Ảnh 13 – kimbap)

Naengmyoeon – mỳ lạnh. Món ăn này dung mỳ sợi nhỏ làm thủ công từ bột sắn dây hoặc kiều mạch. Mỳ được đựng trong bát kim loại đựng nước dung đã ướp lạnh, ray sống thải chỉ, vài lát lê Hàn Quốc và thường thêm một quả trừng luộn hoặc thịt bò lạnh. Khi ăn có thể cho thêm mù tạt cay và giấm tùy ý. (Ảnh 14 – naengmyoeon)

Tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước sốt gochujang cay), khoai tây chiên mực, khoai lang tẩm, soondae (xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và tiết heo), hay các loại thức ăn từ pojangmachas cũng được rất nhiều người ưa thích và có thể dễ dàng tìm thấy ở các hàng bán dạo trên phố. (Ảnh 15)

Thể thao

Hàn Quốc có một nền thể thao tường đối mạnh so với khu vực châu Á cũng như toàn thế giới, đặc biệt ở các môn: võ (đặc biệt là Taekwondo) và bóng đá (đứng thứ 4 thế giới World Cup 2002).

Năm 1988 Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 và xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng. Thế vận hội mùa đông 2010 các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc). Năm 2002 Hàn Quốc và Nhật Bản đồng đăng cai tôt chức Giải vô địch bóng đá thế giới. Tại đây đội bóng đá Hàn Quốc trở thành đội đầu tiên thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á lọt vào vòng bán kết. (Ảnh 16)

(Nguồn: Tổng hợp)